Như chúng ta đã biết, một lượng khí nhà kính tự nhiên là cần thiết để giữ nhiệt cho trái đất, giúp duy trì nhiệt độ phù hợp cho sự sống.
Tuy nhiên, quá nhiều khí nhà kính do con người tạo ra đang làm trái đất ấm lên bất thường, gây ra biến đổi khí hậu, nóng lên toàn cầu, băng tan, nước biển dâng, thời tiết cực đoan,…
Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước (H₂O), Cacb.
Khí Mê-tan (CH4) là khí thải chính từ nông nghiệp (chiếm 75%, số liệu nghiên cứu năm 2016). Khí metan (CH₄) là một trong những tác nhân gây biến đổi khí hậu nghiêm trọng nhất, dù không phổ biến bằng CO₂. Việc kiểm soát và giảm phát thải CH₄ là ưu tiên hàng đầu trong nỗ lực bảo vệ khí hậu toàn cầu.
N2O là khí nhà kính cực mạnh. Vi sinh vật yếm khí (methanogen) trong đất phân giải chất hữu cơ (rơm rạ, phân bón hữu cơ, tàn dư cây trồng…).
Ruộng lúa bị ngập nước → môi trường yếm khí (thiếu oxy) được hình thành. Quá trình hình thành và phát thải CH₄ trong ruộng lúa. 60% khí CH₄ được oxy hóa thành CO₂ trong đất, nhờ hoạt động của vi sinh vật methanotroph ở vùng đất có oxy.
40% CH₄ còn lại được phát tán ra môi trường không khí thông qua 3 con đường chính:
1. Qua mô khí bên trong thân lúa (90%)
Cơ chế chủ yếu: CH₄ từ đất theo hệ thống khí đạo (aerenchyma) trong thân cây lúa và thoát ra không khí. Đây là con đường chính, chiếm 90% lượng CH₄ thoát ra.
2. Khuếch tán qua tầng nước mặt (9%)
CH₄ khuếch tán từ đất ngập nước → tầng nước mặt → không khí, theo gradient nồng độ (từ cao → thấp). Tỷ lệ phát thải: 9%.
3. Thông qua bọt khí (1%)
CH₄ tích tụ dưới dạng bọt khí dưới nước và thoát lên mặt nước khi bọt vỡ, chiếm 1%.
Ý nghĩa thực tiễn trong quản lý canh tác: Việc giảm phát thải CH₄ cần:
Tăng oxy trong đất (giúp oxy hóa CH₄ thành CO₂): như tưới ngập khô xen kẽ (AWD).
Giảm sinh CH₄ bằng cách hạn chế vật chất hữu cơ yếm khí (như rơm rạ chưa hoai mục).
Tăng cường sinh khối rễ lúa khỏe, giúp cải thiện vùng rễ hiếu khí, tăng vi sinh vật oxy hóa CH₄.
Ngập thường xuyên (0.3%): 0.000471 kgN2O/kg N
Ướt khô xen kẽ (0.5%): 0.000786 kgN2O/kg N. N2O sinh ra do quá trình ni-tơ-rát và phản ni-tơ-rát trong đất. Phát thải N2O trong cả điều kiện đất yếm khí và hảo khí. Phát thải trong điều kiện hảo khí mạnh hơn điều kiện yếm khí. Ô-xít ni-tơ không màu, không mùi và không vị
Nguyên tắc bón phân giảm phát thải khí nhà kính:
Bón đúng lúc:Bón phân theo nhu cầu của cây lúa từng giai đoạn (đẻ nhánh, làm đòng, trổ). Tránh bón quá sớm hoặc quá trễ, gây thất thoát và phát thải khí N₂O.
Bón đúng loại:Giảm lượng đạm (N) hóa học tổng cộng, đặc biệt là đạm urê – tác nhân gây phát thải N₂O. Kết hợp phân hữu cơ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, hoặc phân hữu cơ khoáng để cải tạo đất và giảm phát thải.
Bón đúng lượng:Không bón dư thừa phân đạm. Sử dụng công cụ hỗ trợ như bảng so màu lá lúa, thiết bị chẩn đoán dinh dưỡng để xác định lượng phân cần bón.
Bón đúng cách:Áp dụng kỹ thuật bón phân vùi thay vì rải trên mặt ruộng. Sử dụng viên nén phân chậm tan hoặc phân nhả chậm để giảm số lần bón và hạn chế phát thải.
Dù ĐBSCL hiện vẫn có nước, nhưng trước tình hình khí hậu biến đổi, xâm nhập mặn, nguồn nước suy giảm và áp lực môi trường, tiết kiệm nước là điều cần thiết và cấp bách
Vừa giúp bảo vệ sản xuất nông nghiệp, vừa góp phần phát triển bền vững lâu dài.
Áp dụng quy trình ngập khô xen kẽ: giảm 30% lượng nước tưới khi sử dụng cảm biến mực nước và giảm trung bình 8 tấn CO2 /năm/ha.
Hàng năm VN sử dụng khoảng 10 triệu tấn phân bón hóa học với hiệu suất sử dụng 30-50%, trong khi đó N hiệu suất sử dụng 30-35%.
Chỉ đưa nước vào ruộng khi mực nước xuống thấp dưới mặt đất 15 cm hoặc mặt ruộng.
Nứt chân chim, mức ngập tối đa 5 cm với các lư ý sau: Giai đoạn 1-7 ngày sau sau sạ: giữ ruộng đủ ẩm. giai đoạn 12-22 ngày sau sạ.Rút nước, giai đoạn từ 28-40 ngày sau sạ” rút nước trước khi thu hoạch từ 7 đến 15 ngày.
Tin: Danh Thuận – (TTDVTH)