PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI TRÊN LÚA TRONG MÙA MƯA BÃO

Vụ lúa Hè Thu là vụ sản xuất gặp nhiều khó khăn do gặp nắng hạn đầu vụ và mưa bão ở giữa và cuối vụ. Ngoài ra đây cũng là vụ có nhiều đối tượng sâu bệnh gây hại cho cây lúa, nhất là vào giai đoạn đòng trỗ, do đó tác động nhiều đến năng suất và sản lượng lúa, chính vì vậy bà con nông dân cần áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế sự gây hại của các đối tượng sâu bệnh, đồng thời tiết kiệm được chi phí trong sản xuất. Để vụ lúa Hè Thu 2026 đạt thắng lợi về năng suất và hiệu quả, bà con nông dân cần nắm rõ những dịch hại thường xuất hiện vào giai đoạn đòng trỗ, giai đoạn quyết định năng suất và chất lượng lúa thu được trong vụ để có hướng chủ động phòng trị kịp thời, bao gồm:

1. Rầy nâu   

- Dựa trên dự báo thời gian rầy nâu di trú của từng đợt để theo dõi tình hình rầy nâu trên đồng ruộng nhằm có biện pháp quản lý và phòng trị kịp thời, không để lây lan sang diện rộng và truyền bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá.

- Cần áp dụng gói kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, 1 phải – 5 giảm, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp IPM để quản lý tốt rầy nâu trong suốt vụ, tránh gây bộc phát rầy ở giai đoạn sau. Thăm đồng thường xuyên và tuyệt đối không nên sử dụng thuốc quá sớm sẽ làm mất đi nguồn thiên địch trên đồng ruộng, khuyến cáo nông dân chỉ phun thuốc hoá học khi mật số rầy cám nở rộ tập trung ở tuổi 2 – 3 với mật số cao (trên 3 con/tép lúa), sử dụng các loại thuốc đặc trị, đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc “4 đúng” .Cần chú ý nếu vào giai đoạn lúa trỗ, khi phun thuốc rầy cần bơm nước vào ruộng để rầy dễ tiếp xúc với thuốc khi phun thì việc phòng trừ sẽ đạt hiệu quả cao.

  1. Bệnh cháy bìa lá:  Do vi khuẩn Xanthomonas 0ryzae gây hại. Bệnh phát triển mạnh và lan truyền nhanh khi độ ẩm không khí cao, thời tiết âm u, mưa nhiều và vào mùa mưa bão bệnh rất nặng.

Biểu hiệnVết bệnh phát triển ở hai bìa lá, ban đầu bệnh xuất hiện từ chóp lá, sau đó lan dần xuống dưới ở hai bên bìa lá. Đầu tiên vết bệnh là những vệt nhỏ trong suốt nằm giữa các gân lá, sau đó vết bệnh lớn dần và chuyển sang màu vàng nâu. Vết bệnh thường trở nên trắng mờ, trong vết bệnh là dịch vi khuẩn thường nhỏ giọt ra ngoài vào sáng sớm, chiều tối và ban đêm, sau đó làm cho lá khô, mất khả năng quang hợp. 

- Bệnh có thể phát sinh trên cây lúa ở tuổi mạ nhưng chủ yếu gây hại nặng vào giai đoạn làm đòng và trỗ bông. Bệnh xâm nhập vào cây qua khí khổng, qua vết thương trên lá do mưa, bão và qua vết thương trên bẹ lá và rễ lúa do vết chích của rầy nâu hoặc tuyến trùng. Vi khuẩn có thể xâm nhập qua đường rễ làm nghẽn mạch dẫn nhựa, nhưng thường khu trú tập trung và tấn công trên lá. 

R Bla2R BLa4

Hình 1: Bệnh cháy bìa lá lúa giai đoạn trỗ chín

Phòng và TrịĐể phòng và trị bệnh cần áp dụng nhiều biện pháp hợp lý.

- Phòng bệnh: Vệ sịnh đồng ruộng thật kỹ để cắt đứt mầm vi khuẩn gây bệnh. Sử dụng giống chống chịu tốt và sạ thưa, bón phân cân đối giữa đạm, lân và Kali.

- Khi xuất hiện bệnh, nên giảm bớt lượng phân đạm, tăng cường phân kali, thay nước ruộng và phun một trong các loại thuốc có hoạt chất sau: Xantocin 40WP, Starner 20 WP,  Visen 20SC, ….phun vào giai đoạn làm đòng và trước trổ nhất là sau những đợt mưa bão. Phun thuốc nên phun thật kỹ để thuốc bám đều trên lá lúa.

Bệnh Đạo Ôn:

- Bệnh do nấm Pyricularia oryzae gây ra. Nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng, lúa chét, cỏ dại. Bào tử thường phát sinh vào ban đêm khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ ngày đêm chênh lệch, trời âm u liên tục trong nhiều ngày là điều kiện rất thuận lợi cho bệnh đạo ôn lá lây lan, phát triển và gây hại nặng. Trong điều kiện khô hạn, ẩm độ đất thấp hoặc ở điều kiện ngập úng kéo dài cây lúa dễ bị nhiễm bệnh. Những chân ruộng nhiều mùn, trũng, khó thoát nước; những vùng đất mới vỡ hoang, đất nhẹ giữ nước kém, khô hạn rất phù hợp cho nấm bệnh phát triển gây hại.

- Bệnh thường xuất hiện và gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng trên các bộ phận của cây. 

- Triệu chứng biểu hiện: vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ màu xanh xám nhạt. Về sau vết bệnh lớn dần có hình thoi, rộng ở phần giữa, nhọn ở 2 đầu, ở giữa vết bệnh màu xám tro, xung quanh nâu đậm, phần tiếp giáp với mô khỏe có màu nâu nhạt. Khi bệnh nặng các vết bệnh nối liền nhau làm cho lá bị cháy, nơi bị nhiễm nặng có thể bị cháy rụi hoàn toàn, bộ rễ bị thối và lúa không hồi phục.

Bệnh Đạo Ôn Hại Lúa - nguy cơ & cách khắc phục "hiệu quả"

Hình 2: Bệnh đạo ôn lá

- Bệnh đạo ôn là loại bệnh gây hại nghiêm trọng, dễ phát triển nhanh trên diện rộng. Vì vậy để phòng trừ hiệu quả phải điều tra theo dõi phân tích các điều kiện liên quan tới sự phát sinh của bệnh. Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp để phòng trừ bệnh đạo ôn sẽ mang lại hiệu quả cao, trong đó đặc biệt lưu ý:

- Dọn sạch tàn dư rơm rạ và cỏ dại mang mầm bệnh trên đồng ruộng; gieo cấy các giống kháng hoặc chống chịu với bệnh đạo ôn trong vùng thường xảy ra bệnh và mức gây hại cao; kiểm tra hạt giống và xử lý giống trước khi sạ, mật độ gieo sạ vừa phải. Bón phân với tỉ lệ cân đối N:P:K, bón tập trung nặng đầu, nhẹ cuối. Khi bị bệnh đạo ôn không để ruộng khô hạn, không bón phân đạm, không phun các loại phân bón lá và thuốc kích thích sinh trưởng vì sẽ làm bệnh nặng hơn.

- Cần theo dõi chặt chẽ thời gian lúa vào trỗ, ruộng ít nhiều bị bệnh đạo ôn bước vào trỗ đều phải phun thuốc, sau đó đối với ruộng bị nặng, còn vết bệnh thì 7 - 10 ngày sau phải phun thuốc lại một lần nữa. Dùng các thuốc đặc hiệu để phun trừ bệnh như: Filia, Beam, Fuan, Trizole, Amistar top, Fujione…. với liều lượng và nồng độ theo hướng dẫn trên chai thuốc. 

4. Bệnh vàng lá: Bệnh thường xuất hiện và gây hại ở giai đoạn 7 – 10 ngày trước khi trỗ cho đến khi thu hoạch. Bệnh thường tấn công những lá phía dưới trước sau đó lan dần lên các lá phía trên. Ban đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ có màu vàng nhạt sau đó chuyển dần sang màu vàng cam và lớn dần, kéo dài thành một vệt dọc theo phiến lá đi dần lên phía chóp lá. Khi mới nhiễm ở giai đoạn đầu của cây lúa nếu được áp dụng các biện pháp phòng trị sớm, bệnh sẽ ít hoặc không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Tuy nhiên nếu không phòng trị kịp thời để bệnh phát triển và gây hại mạnh đến lá đòng, làm bộ lá bị khô cháy thì tỷ lệ lép lửng sẽ rất cao, gây thất thu năng suất nghiêm trọng. 

Để hạn chế tác hại của bệnh bà con nông dân cần áp dụng một số biện pháp sau: 

          - Bón phân cân đối NPK và không bón quá nhiều phân đạm.

          - Sử dụng một số loại thuốc trị nấm bệnh ở giai đoạn trước khi trổ hoặc khi vết bệnh mới xuất hiện như các thuốc hóa học có thể hạn chế sự gây hại của bệnh vàng lá gồm Anvil, Derosal và Copper B.

Chú ý tuân thủ nguyên tắc 4 đúng khi phun: đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và đúng cách.

                                          Tin - ảnh: Thị Thanh (TTDVTH).